Tổng số bác sĩ chấn thương chỉnh hình tại Việt Nam khoảng 500 người. Thu nhập trung bình mỗi tháng 150 USD. Một tua trực được trả khoảng 3 USD. So với Cộng hoà Pháp (2.500 bác sĩ chấn thương chỉnh hình cho 60 triệu dân, lương tháng khoảng 3.000 USD. Một tua trực được trả 100 USD), bác sĩ chấn thương chỉnh hình ở Việt Nam làm việc 6 lần nặng nhọc hơn và thu nhập 20 lần ít hơn.
Các trường hợp chấn thương mới được xử trí cấp cứu (mổ hoặc nắn rồi bó bột), tại Việt Nam, bao nhiêu phần trăm? Chưa có báo cáo thống kê rõ ràng; tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình khoảng 30%. Con số này, tại Pháp gần 100%.
Tại Việt Nam, đối với những trường hợp gãy mới, điều trị bảo tồn (nắn xương rồi bó bột) vẫn còn là phương pháp thông dụng, có thể tới 70%. Tại Pháp mổ kết hợp xương được chỉ định khá rộng rãi. Điều trị bảo tồn chỉ dành cho các trường hợp gãy nứt, gãy hoàn toàn không di lệch. Lý do mổ là nắn không còn di lệch (dù rất ít) và cố định vững chắc, vật lý trị liệu càng sớm càng tốt. Nắn hết di lệch còn giúp phục hồi trục chi và mặt khớp gần như hoàn toàn sẽ không bị thoái hoá khớp trên và / hoặc dưới ổ gãy về sau. Mổ khỏi mang bột nặng nề, rất không tiện nghi đối với bệnh nhân Pháp.
Tại Việt Nam, một số di lệch có thể chấp nhận được. Tại Pháp, hầu như rất ít di lệch được chấp nhận.
Chi phí y tế tại Pháp rất mắc. Một phẫu thuật ví dụ Khớp Háng Toàn Phần, tổng chi tới khoảng 15.000 USD. Một ngày nằm viện 900 USD. Tại Việt Nam, các con số này là 1.500 USD và 10 USD. Tuy nhiên, bảo hiểm Pháp có thể trả tới 75% chi phí. Tại Việt Nam, bảo hiểm còn rất yếu ớt. Vì vậy, nếu so sánh chất lượng điều trị / giá thành (benefit/cost) (nếu không kể bảo hiểm), thì Việt Nam chưa hẳn quá thua kém so với Pháp (dù GDP Việt Nam chỉ bằng 1/30 và thu nhập bình quân đầu người bằng 1/50 Pháp).
Tương lai chấn thương chỉnh hình Việt Nam có lẽ tập trung hai vấn đề chính: cơ sở vật chất và nhân sự.
Cơ sở vật chất (bệnh viện và trang thiết bị) có lẽ không là vấn đề quá khó khăn. Cần nguồn tài chính với cách quản lý tốt (để không bị thất thoát) là có thể xây dựng được.
Ở đây, nổi lên vấn đề đầy thách thức và cấp bách: đào tạo lực lượng lao động mà chủ yếu là bác sĩ chuyên khoa.
Mỗi năm Việt Nam có thêm 1,2 triệu công dân mới. Số lượng bác sĩ chấn thương chỉnh hình / dân là 1/160.000. Với chỉ số này có lẽ Việt Nam là một trong 30 quốc gia xếp chót bảng của Liên Hiệp Quốc.
Đó mới chỉ nói số lượng, chưa nói chất lượng. Công tác đào tạo vì vậy rất khẩn thiết và đòi hỏi nhiều nỗ lực.
Đại học Y khoa Rennes (một trong 50 thành phố hạng vừa của Pháp) có: 100 giáo sư thực thụ là Trưởng khoa của 100 bộ môn, với hơn 300 giáo sư agrégés (sẵn sàng thay giáo sư thực thụ); và tuổi đời của giáo sư chủ nhiệm bộ môn khoảng 52.
Đại học Y Dược Tp.HCM nghĩ gì, làm gì, với những số liệu trên của Đại học Y khoa Rennes?
Dù sao, đào tạo cơ bản chấn thương chỉnh hình tốt nhất vẫn phải bám sát thực tế của Việt Nam. Tuy nhiên, để nâng cao, có lẽ Cộng Hoà Pháp, các nước láng giềng ASEAN (Thái Lan, Malaysia, Singapore v.v…); Tổ chức Chấn thương Chỉnh hình vùng Châu Á - Thái Bình Dương (APOA) thiết nghĩ sẽ rất hữu ích vậy.