ĐẶT VẤN
ĐỀ
Có nhiều phương pháp vô cảm cho các
phẫu thuật chỉnh hình vùng chi dưới như gây mê toàn thân, gây tê tủy sống và
hoặc gây tê ngoài màng cứng. Trong mỗi phương pháp đều có những bất lợi khác nhau,
nhất là khi bệnh nhân có nhiều bệnh lý nội khoa kèm theo như bệnh tim mạch và
hô hấp thì gây mê toàn thân có nhiều bất biến chứng (1,8,9). Cũng
như gây mê toàn thân, tê tủy sống hoặc tê ngoài màng cứng đơn thuần cũng gặp
khá nhiều rủi ro như tụt huyết áp, suy hô hấp, ngộ độc thuốc tê và hoặc thuốc
nhóm á phiện và có thể thất bại về kỹ thuật (2,3,4,10,13).
Ngày nay tuổi thọ trung bình của người
dân tăng cao, cùng với tiến bộ của ngành Chấn thương Chỉnh hình đã và đang có
nhiều phẫu thuật lớn tại vùng chi dưới như thay khớp háng , thay khớp gối cho
bệnh nhân lớn tuổi(15,16). Mặt khác bệnh nhân lớn tuổi có kèm theo
bệnh lý nội khoa ngày càng nhiều, vì vậy các phương pháp vô cảm nêu trên còn có
nhiều hạn chế và chưa đáp ứng tốt cho các loại phẫu thuật lớn của chuyên ngành
Chỉnh hình. Song song với với những tiến bộ
đó, ngành Gây mê Hồi sức cũng đã và đang phát triển nhằm đáp ứng một
cách tốt nhất cho phẫu thuật và an toàn cho bệnh nhân. Chính vì lý do trên
phương pháp gây tê ngoài màng cứng và gây tê tủy sống phối hợp (CSE ) đã ra đời nhằm đảm bảo an toàn và hiệu
quả cho các phẫu thuật vùng chi dưới với những lợị điểm như sau :
Có khả năng kéo dài tác dụng của gây
tê tủy sống, giảm liều thuốc tê cho cả gây tê tủy sống và gây tê ngoài màng
cúng (NMC), có khả năng khắc phục sự phong bế không đầy đủ của gây tê tủy sống,
đảm bảo vô cảm cho cuộc phẫu thuật kéo dài, tiếp tục giảm đau sau mổ. Không
những thế việc sử dụng thuốc đơn thuần cho bất kỳ kỹ thuật nào đều phải đủ liều
lượng, thậm chí có nguy cơ ngộ đôc thuốc, nhưng nếu phối hợp thuốc thì sẽ giảm
được liều lượng mỗi thuốc và kéo dài tác dụng cũng như an toàn cho bệnh nhân(1,5,6,7,).
Vì các lý do nêu trên chúng tôi tiến hành phương pháp kết hợp
gây tê ngoài màng cứng và gây tê tủy sống với Bupivacaine đẳng trọng
liều thấp có sử dụng thêm Sufentanil cho các phẫu thuật thay khớp hang ở bệnh
nhân lớn tuổi tại khoa Gây mê Hồi sức ( GMHS) Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình
Quốc Tế Sài Gòn (SÀI GÒN-ITO).
MỤC TIÊU
NGHIÊN CỨU
Xác định hiệu
quả của phương pháp CSE với Bupivacaine đẳng trọng liều thấp có kết hợp
Sufentanil trong phẫu thuật thay khớp háng ở bệnh nhân cao tuổi.
ĐỐI
TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân ≥70
tuổi có chỉ định phẫu thuật thay khớp háng từ ASAI đến ASAIV
Bệnh nhân không thuộc nhóm nghiên cứu: các bệnh nhân có
bệnh nội khoa nặng kèm theo chưa được điều trị ổn định, không được sự đồng ý cua
bệnh nhân, các chống chỉ định của gây tê tủy sống và
gây tê ngoài màng cứng
Phương pháp nghiên cứu : Tiến cứu
thử nghiệm lâm sàng.
Các thông số theo dõi.
- Mức độ vô cảm
trong mổ: theo thang điểm đau EVS( Echelle Verbale Simple)
- Huyết động
trong mổ
- Mức độ đau sau
mổ theo thang điểm EVS ( 0 điểm: hoàn toàn không đau; 1 điểm: đau nhưng có thể
chịu đựng được; 2 điểm: đau phải dùng thêm thuốc giảm đau khác; 3: điểm: đau
không chịu được phải đổi phương pháp vô cảm và/hoặc thuốc giảm đau khác).
Phương pháp tiến hành :
- Bệnh nhân được khám tiền mê, điều
trị những bệnh lý đi kèm theo.
- Gây tê thần kinh đùi cho bệnh nhân ( tê thần kinh 3 trong 1) với
lidocaine 1%/20ml, sau gây tê bệnh giảm đau tạm thời sau đó đưa bệnh nhân lên
bàn mổ với tư thế thuận lợi cho thực hiện kỹ thuật CSE.
- Sử
dụng bộ gây tê ngoài màng cứng và tuỷ
sống phối hợp(Espocan) của hãng B/Braun
Bệnh nhân nằm nghiêng, sát trùng da vùng lưng sẽ gây tê
bằng bằng cồn 70 độ, gây tê tại chỗ bằng Lidocaine 1%, đâm kim Tuohy 18G, xác
định khoang ngoài màng cứng bằng phương pháp mất kháng lực, sau đó đâm kim tuỷ
sống 27G trong lòng kim Tuohy vào tuỷ sống, khi có dịch não tuỷ chảy ra trong, bơm
vào trong khoang tủy sống hỗn hợp từ 3 -
5mg Maracine 0,5% đẳng trọng và 5 mcg
Sufentanil, rút kim tê tủy sống, luồn dây vào khoang NMC, băng cố định dây luồn
vào lưng bệnh nhân cho bệnh nhân nằm ngửa, thở ô xy qua mũi 51/phút, khi huyết
áp ổn định tiếp tục bơm vào khoang NMC qua dây luồn 5ml dung dịch Maracaine 0,1% + Sufentanil 1mcg/ml, sau đó duy trì
dung dịch trên qua bơm tiêm điện 5ml/giờ vào khoang ngoài màng cứng
KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU :
1. Phân bố giới tính : Nam giới 50 BN(28,5%), n ữ
125 BN( 71,4%).
Bệnh nhân nữ
chiếm ưu thế hơn
2. Tuôỉ: t ừ 70-90 : 150 BN, trên 90 tuổi 25 BN
3. Bệnh lý kèm
theo:
Bảng 1
|
STT
|
Loại bệnh
|
Số bệnh nhân
|
Tỷ lệ %
|
|
1
|
Tiểu đường
|
97
|
55,42
|
|
2
|
Tăng huyết áp
|
155
|
88,6
|
|
3
|
Thiếu máu cơ tim
|
55
|
31,42
|
|
4
|
Viêm phổi mãn tính
|
80
|
46
|
|
5
|
Không có bệnh kèm theo
|
39
|
22,3
|
Trong nhóm nghiên cứu chúng tôi gặp
bệnh kèm theo nhiều , cao nhất là bệnh tăng huyết áp .
4. Bệnh lý khớp háng:
Bảng 2
|
STT
|
Loại bệnh
|
Số bệnh nhân
|
Tỷ lệ %
|
|
1
|
Hoại tử chỏm xương đùi
|
13
|
7,5
|
|
2
|
Gãy cổ xương đùi
|
162
|
92,5
|
5. Liều thuốc tê tiêm vào tủy sống:
Bảng 3
|
Liều lượng Bupivacain(mg)
|
Số bệnh nhân
|
Tỷ lệ (%)
|
|
5
|
30
|
17,15
|
|
3
|
145
|
82,85
|
Bupivacaine dùng cho bệnh nhân có chiều cao < 1m 60 và từ 80 trở lên là 3mg nhóm có chiều cao
≥ 1.6m và tuổi < 80 là 5mg.
6. Đặc điểm trong và sau mổ.
Bảng 4 : Đặc
điểm trong và sau mổ
|
STT
|
Các thông số
|
Trị số trung bình ± ĐLC
|
|
1
|
Thời gian thực hiện kỹ thuật tê
(phút)
|
4,52 ± 0,93
|
|
2
|
Thời gian mất cảm giác đến T12 –L1
(phút)
|
3,21 ± 0,45
|
|
4
|
Lượng dung
dịch truyền trong mô (ml)
|
450,15 ± 16,62
|
|
5
|
Thời gian phẫu thuật (phút)
|
62,16 ± 14,51
|
|
3
|
Thời gian lưu catheter (ngày)
|
6 ± 11,24
|
7. Các loại phẫu thuật:
Bảng 5.
|
STT
|
Loại bệnh
|
Số bệnh nhân
|
Tỷ lệ %
|
|
1
|
Thay khớp háng toàn phần
|
53
|
30,3
|
|
2
|
Thay khớp háng bán phần đơn cực
|
12
|
6,85
|
|
3
|
Thay khớp háng bán phần lưỡng cực
|
110
|
62,85
|
Lọai phẫu thuật cao nhất trong nghiên
cứu là thay khớp hang bán phần lưõng cực.
8. Diễn biến huyết động trong lúc phẫu thuật:
Bảng 6.
|
Thông số
Thời điểm
|
HATĐ (mmHg)
|
HATT( mmHg)
|
Nhịp tim( lần/p)
|
|
Trước khi gây tê
|
142,42
|
80,65 ± 13,34
|
87,92± 10,63
|
|
Sau gây tê 5 phút
|
125,3 ± 17,02
|
75,65 ± 12,34
|
80,45 ± 9,44
|
|
Lúc rạch da
|
120 ± 16,36
|
70,65 ± 12,34
|
70,52 ± 9,34
|
|
Lúc tạo khớp giả
|
115 ± 15,36
|
68,52 ± 11,34
|
68,52 ± 8,34
|
|
Lúc đóng vết mổ
|
110 ± 13,36
|
67,52 ± 10,34
|
67,52 ± 8,24
|
Ghi chú : HATĐ : Huyết áp tối đa ; HATT
: Huyết áp tối thiểu
9. Thay đổi trí giác: BN tỉnh táo
hoàn toàn trong lúc mổ 165 (94,28%), chỉ có 10 BN ngủ nhưng khi goi tinh
ngay(5,71%).
10. Hiệu quả vô cảm trong mổ theo thang diểm EVS..
11. Biến chứng trong
và sau mổ : có 1 BN(0,57%) hạ huyết áp.
12. Hiệu quả giảm đau sau mổ theo
EVS.
BÀN LUẬN
Bệnh
nhânnghiên cứu có độ tuổi từ 70 -98 tuổi, trung bình 78,61 ± 11,23, gặp đa số bệnh
nhân ở độ tuổi từ 70-85. Ở độ tuổi này bệnh nhân có nhiều bệnh lý kèm theo như
tăng huyết áp, tiểu đường, bệnh thiếu máu cơ tim, bệnh phổi mạn tính. Số bệnh
nhân nữ cao hơn nam chiếm tỷ lệ 71,4%(nữ/nam =125/50)
Phân loại theo bệnh .
Trong
nghiên cứu này gặp bệnh lý về khớp háng
khá phổ biến (chủ yếu là gãy cổ xương đùi, hoại tử chỏm xương đùi), trong đó phẫu
thuật thay khớp háng toàn phần 53 trường hợp, thay khớp háng bán phần đơn cực
12 trường hợp, thay khớp háng bán phần lưỡng cực 110 trường hợp.
Bệnh lý nội khoa kèm theo .
Theo
bảng 1 trong kết quả nghiên cứu cho thấy đa số bệnh nhân đều có bệnh lý nội khoa kèm theo như tiểu
đường chiếm 55,42%, cao nhất là bệnh tăng huyết áp chiếm tỷ lệ 88,6%, bệnh về
hô hấp 46%. Chỉ có 22,3% số bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu là không có bệnh lý
nội khoa kèm theo, kết quả này cũng phù hợp với lứa tuổi. Các bệnh lý đi kèm
được điều trị theo chuyên khoa ổn định trước mổ và xử trí tốt trong và sau mổ (2,
11, 12, 14).
Liều lượng thuốc tê bupivicaine và
sufentanil .
Liều
lượng thuốc tê bupivacaine tiêm vào
khoang dưới màng nhện (tủy sống ) cao nhất là
5mg ở nhóm bệnh nhân có chiều cao từ 1,60m trở lên với độ tuổi dưới 80 và 3mg ( chiếm tỷ lệ trên 82%) cho nhóm bệnh
nhân có chiều cao dưới 1,60m với độ tuổi từ 80 tuổi trở lên, cùng với liều 5 mcg sufentanil
cho cả 2 nhóm, như vậy liều lượng bupivacaine hầu hết là 3mg tiêm vào tuỷ sống,
liều lượng này thấp hơn hầu hết các tác giả. Sau đó tiêm vào khoang ngoài màng
cứng 5ml dung dịch bupivicaine 0,1% và sufentanil
1mcg/ml (dung dịch BS) đồng thời duy trì dung dịch BS liên tục vào khoang ngoài
màng cứng từ 3- 5ml/gìơ cho đến 24 giơ sau mổ, và duy trì giảm đau sau mổ trung
bình 6 ngày. Như vậy liều thuốc sử dụng trong nhóm nghiên cứu thấp so với một số
tác giả(12,14) mà vẫn đảm bảo vô cảm tốt cho phẫu thuật, kết quả này
cũng tương tự kết quả của Nguyễn Thành Vinh, Nguyễn Văn Chừng(9, 10).
Lựa chọn bupivacain đẳng trọng vì thuốc không
lan toả theo tư thế của bệnh nhân, và có hiệu quả phù hợp với tư thế bệnh nhân
nằm nghiêng khi thực hiện kỹ thuật CSE cũng như khi phẫu thuật.
Hiệu quả vô cảm trong mổ.
Trong
nghiên cứu có tỷ lệ mất cảm giác đau đến
T12 –L1. Đây là mức vô cảm tốt cho phẫu
thuật từ ngang vùng bụng dưới trở xuống chân, hiệu quả đạt mức vô cảm tối ưu
cho phẫu thuật Chỉnh hình chi dưới nói chung và phẫu thuật thay khớp háng trong
nhóm nghiên cứu này với tỷ lệ vô cảm đạt
trên 99% ( biểu đồ 1), tuy nhiên trong nghiên cứu gặp tỷ lệ khoảng 1% ở thời điểm đóng vết mổ bệnh nhân
khó chịu và có cảm giác đau nhẹ vùng mổ, lúc này đã tăng tốc độ duy trì NMC lên
10ml/giờ trong 10 phút, sau đó bệnh nhân dễ chịu và hết đau. Kết quả trong
nghiên cứu này cao hơn kết quả của Huỳnh Văn Chương, Lê Văn Chung và cộng sự
(2005), Christian G (2002), Erdril F (2009), cũng tương đương với kết quả của
Lê Minh Tâm (2007). Như vậy phương pháp gây tê ngoài màng cứng và gây tê tủy
sống kết hợp có hiệu quả vô cảm đảm bảo tốt
cho phẫu thuật và có tác dụng giảm đau sau mổ khá cao mà chỉ cần liều
thuốc tê thấp(2, 9).
Diễn biến trong lúc phẫu thuật .
Với thời gian phẫu thuật trung bình 62 ± 11,86 phút chúng tôi duy trì
dung dịch BS 3-5ml/giờ vào khoang ngoài màng cứng, không cần cho thêm liều
thuốc giảm đau khác cho tất cả các trường hợp trong nghiên cứu, thậm chí có 2 trường hợp phẫu thuật kéo dài trên 2h mà hiệu quả vẫn tốt. Hầu hết bệnh nhân trong nhóm
nghiên cứu đều không có thay đổi về mặt tri giác trong lúc mổ, bệnh nhân tỉnh
táo nói chuyện vui vẻ, có 2 trường hợp ngủ nhưng gọi tỉnh ngay 13,14).
Diễn
biến về huyết động trong lúc mổ .
Trong
kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ số
về huyết áp, nhịp tim ở các thời điểm
trước lúc mổ khác biệt nhau có ý nghĩa so với các thời điểm sau khi làm kỹ
thuật tê 5 phút, lúc rạch da, lúc tạo khớp giả và lúc đóng vết mổ. Đây cũng phù
hợp bởi vì đa số bệnh nhân trong nghiên cứu đều có tăng huyết áp trước đó, hơn
nữa bệnh nhân sau khi được chuyến đến phóng mổ có tăng huyết áp do lo lắng và
nhất là do đau, sau khi gây tê bênh nhân hết đau do đó huyết áp và nhịp tim dần
dần ổn định trong giới hạn cho phép. Cũng trong nghiên cứu các thông số huyết
áp và nhịp tim giữa các thời điểm sau khi làm kỹ thuật tê 5 phút, lúc rạch da,
lúc tạo khớp giả và lúc đóng vết mổ đều không khác nhau có ý nghĩa về mặt thống
kê với P >0,05, như vậy huyết động dường như rất ổn định trong lúc mổ. Với
nhóm bệnh nhân trên 70 tuổi áp dụng kỹ thuật kết hợp gây tê ngoài màng cứng và
gây tê tủy sống có hiệu quả giảm đau và ổn định về huyết động của bệnh nhân
trong phẫu thuật, không những thế sau mổ
tiếp tục kiểm soát đau tương đối hoàn
hảo cho bệnh nhân mà không cần dùng các loại thuốc giảm đau toàn thân khác trong
nhóm nghiên cứu(11,12,14).
Diễn biến không mong muốn .
Trong nhóm nghiên cứu có 1 trường hợp
hạ huyết áp chiếm tỷ lệ 0,57% do mất máu,
chúng tôi phải truyền 2 đơn vị máu và sử dụng 40mg Ephedrine, sau đó ổn định(9,
11).
Hiệu quả giảm đau sau mổ.
Sau mổ bệnh nhân tiếp tục được duy
trì dung dịch BS vào khoang ngoài màng cứng với tốc độ 2-5ml/h, bệnh nhân thoải
mái vận động chân tay mà không đau chiếm tỷ lệ 98% ( biểu đồ 2), bệnh nhân ngồi
dậy sớm và ho khạc đơm một cách dẽ dàng. Chính vì vậy mà tránh được các biến
chứng hàng đầu đó là viêm phổi và tắc mạch sau mổ do bệnh nhân lớn tuổi, nằm
lâu và có bệnh phổi trước mổ. Không những thế khi duy trì giảm đau NMC bệnh
nhân tập vận động và tập đi rất thuận lợi.
KẾT LUẬN
Sử dụng bupivacaine đẳng trọng liều
thấp có thêm sufentanil trong phương pháp
kết hợp gây tê ngoài màng cứng và gây tê tủy sống là phương pháp có hiệu quả vô cảm tốt trong mổ
và giảm đau tương đối hoàn hảo sau mổ thay khớp háng cho người cao tuổi, có thể đảm
bảo vô cảm cho cuộc phẫu thuật kéo dài hơn. Với phương pháp này bệnh nhân ổn
định về tim mạch, hô hấp, ít tai biến,
rẻ tiền.
Một số từ viết tắt:
ASA: Tiêu chuẩn đánh giá mức độ nặng
của hội Gây mê Hồi sức Hoa Kỳ ( có 6 mức độ từ nhẹ đến nặng ).
BN: bệnh nhân
NMC: ngoài màng cứng
EVS: thang điểm đánh
giá mức độ đau