Tuy nhiên, thế hệ đầu tiên của khớp có xi măng chấm dứt với tỷ lệ mổ lại là 30% ở thời điểm 10 năm sau. Khi chúng tôi so sánh kết quả của phần chuôi và phần ổ cối của khớp có xi măng ở thời điểm 10 và 15 năm, chúng tôi nhận thấy tốc độ lỏng phần ổ cối gia tăng đột ngột sau 15 năm, trong khi tỷ lệ lỏng phần chuôi tăng lên một cách từ từ. Các thế hệ thứ 2 và 3 của khớp có xi măng giúp giảm được tỷ lệ lỏng phần chuôi xuống còn 3-5% ở thời điểm sau 10 năm, nhưng tỷ lệ phải mổ lại ổ cối không thay đổi mấy.
Khớp háng nhân tạo không xi măng, loại có lỗ ở lớp ngoài cùng, được phát triển nhằm tránh tình trạng các mảnh vụn xi măng và hiện tượng tiêu xương. Thế hệ đầu tiên của khớp không sử dụng xi măng mang lại kết quả kém hơn so với loại có xi măng do kiểu thiết kế không đủ sức chống lại các lực dọc trục và lực xoay. Các thế hệ sau của khớp không xi măng đã đề kháng lại tốt hơn các lực ở khớp háng, đạt được độ cố định ban đầu vững, ít các vi cử động hơn, nhờ vậy giúp cho xương mọc len vào khớp nhân tạo tốt và đạt được độ vững chắc. Khi xương mới đã phát triển được vào trong khớp nhân tạo thì độ cố định của loại khớp không xi măng sẽ vững lâu hơn loại có xi măng, ở cả phần chuôi xương đùi cũng như phần ổ cối. Sự cố định phần ổ cối của khớp không xi măng tốt và đáng tin cậy hơn loại khớp có xi măng.
>>Xem nội dung chi tiết...