Sinh cơ học khớp háng được bàn qua ba phần : đặc điểm cấu trúc khớp háng, những chuyển động trong khớp háng với tầm độ khớp hữu dụng khi đi, chạy nhảy và đặc biệt khi có khớp giả, sau cùng là lực tác động đối với khớp háng trong hoạt động khi đứng hai chân hoặc chịu lực một chân, khi đi khi chạy khi nhảy và khi có khớp giả.
ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC GIẢI PHẪU HỌC KHỚP HÁNG
Khớp háng là một khớp ở sâu trong cơ thể. Các bệnh lý của khớp háng thường khó phát hiện, thường phải phân biệt với các bệnh lý của cột sống thắt lưng, vùng khung chậu. Do đó chẩn đoán có thể bị sót nhất là trong trường hợp đa thương và các tổn thương không có sự di lệch nhiều. Chẩn đoán sót gãy cổ xương đùi trong trường hợp có gãy thân xương đùi cùng bên là 33% - 56% trường hợp 3, 21, 23.
Dấu hiệu của các trường hợp trên thường bị sai lệch do các động tác bù đắp của cột sống và đặc biệt là của khớp háng bên kia như các dấu hiệu Thomas và dấu hiệu chiều dài hoặc là ngắn biểu kiến trong các trường hợp bị co rút áp hay co rút dang của khớp háng 8, 22. Nhiều người bệnh nhất là những người bệnh bị sốt bại liệt thường cảm thấy như chân bị bại liệt dài hơn. Thật ra thì chân đó ngắn hơn nhưng vì chân bị lệch theo kiểu dang và khung chậu chùng xuống cho nên người bệnh có cảm tưởng như là chân bị liệt dài hơn.
Hệ thống xương của khớp háng gồm có chỏm xương đùi hình cầu và ổ chảo của khung chậu. Đây là một khớp tròn có ổ chảo nên khớp rất vững trong sinh hoạt hằng ngày. Đặc biệt trong khớp lại có áp suất âm nên muốn cho khớp bị trật ra cần phải có một lực khá mạnh 12. Độ lõm của ổ chảo phát triển tùy thuộc vào sự hiện diện của chỏm xương đùi. Ở trẻ nhỏ xương chậu gồm 3 xương: xương chậu, xương ngồi và xương mu tạo thành 3 xương với sụn hình chữ Y. Trong phôi thai hõm chén ổ chảo được hình thành từ tuần lễ thứ 8 - thứ 9 của thai kỳ. Đến tuần lễ thứ 17 thai kỳ thì khoảng trống của khớp được hình thành với các lớp hoạt mạc 16. Đứa trẻ lớn lên đến tuổi 16 và 18, 3 xương trên dính vào nhau tạo thành ổ chảo nhìn ra phía trước bên ngoài và phía dưới một góc độ 150 và 450 trong khi đó thì cổ và chỏm xương đùi quay vào trong ra trước 150. Sụn khớp của ổ chảo có hình móng ngựa , dày nhất ở phía trên do phải chịu lực nặng khi di chuyển (1,75mm - 2,5mm) chỗ mỏng nhất ở phía sau trong (0,75mm- 1,25mm) 9.
Ổ chảo có sụn viền giống như là sụn viền khớp vai. Sụn viền làm cho ổ chảo sâu hơn phân nữa của hình cầu và tạo cho khớp háng được vững hơn. Sụn viền rộng nhất ở phía sau dưới của ổ chảo (6,4 mm ± 1,7mm) và dày nhất ở phía trên trước của ổ chảo (5,5 mm ± 1,5mm) 19.
Chỏm xương đùi được che phía trên khi chịu lực bởi một phần của ổ chảo và được đo bằng góc Wiberg gọi là góc CE (center-edge angle). Góc này tạo bởi thường thẳng từ bờ ngoài của ổ chảo đến tâm xương đùi và một đường thẳng góc từ tâm xương đùi thẳng lên trên đường thẳng ngang góc này thường phải > 25o. Nếu góc CE < 20o là bất thường và có thể đưa đến tình trạng bán trật chỏm xương đùi 9.
Chỏm xương đùi bằng 2/3 hình cầu nhưng không hoàn toàn tròn như hình cầu với đường kính từ 40 mm - 52mm ở người châu Á từ 45mm - 56mm ở người châu Âu. Chỏm xương đùi được bao một lớp sụn khớp trừ vùng có dây chằng tròn, nơi dày nhất (khoảng 2,5mm) ở phía trên trong hơi phía sau là nơi chịu lực khi hoạt động. Đặc điểm của chỏm là có một vùng phía trong để gắn dây chằng tròn dính vào trong ổ chảo nơi đó có chứa nhiều mô sợi sụn và các mạch máu từ thần kinh bịt và các dây thần kinh từ thần kinh bịt. Chỏm và cổ xương đùi được nuôi bằng các động mạch nhỏ từ động mạch mũ đùi ngoài và trong đi dọc sát ngoài cổ vào trong xương nơi tiếp giáp sụn chỏm và cổ xương đùi 24.
Cổ xương đùi dài khoảng từ 3cm - 5 cm ở người lớn và có góc cổ thân 125 ± 50 khi trưởng thành và góc này lớn hơn khi mới sinh ra 150o. Ở mặt phẳng ngang cổ xương đùi có độ lệch ra trước 15o.
>> Xem nội dung chi tiết...