Phương
pháp nghiên cứu: Chúng tôi làm xạ hình xương và X quang qui ước cho
các bệnh nhân thay khớp háng có ximăng có triệu chứng đau khi đi. So sánh vị
trí tập trung phóng xạ trên xạ hình và nơi có dấu hiệu thấu quang trên Xquang
qui ước. Sau khi đã xác định vị trí lỏng (cán hay ổ cối) chúng tôi dùng ốc cố
định xương –ximăng,
Kết
quả: Từ 06/2004 – 12/2007 chúng tôi
có 16 trường hợp. Với xạ hình xương chúng tôi phát hiện một trường hợp lỏng cán
sau thay khớp háng bán phần có xi măng, 4 trường hợp lỏng ổ cối trong thay khớp
toàn phần có ximăng, 9 trường hợp lỏng ổ cối và cán xương và 2 trường hợp lỏng
cán xương đơn thuần. Với Xquang qui ước chỉ phát hiện 9 trường hợp lỏng cán và
2 trường hợp lỏng ổ cối.
Đối với khớp háng có xi măng
chúng tôi không thay lại LKHNTCXM mà tiến hành khoan vit cố định. Đối với lỏng ổ khớp chúng tôi khoan 3-4 vít để cố
định, chúng tôi đã tiến hành làm vững 15 ổ cối. Đối với lỏng cán chúng tôi
khoan bắt vít từ 6-8 vít. Chúng tôi đã tiến hành cho 11 cán bị lỏng. Kết quả
cho thấy 16 trường hợp được làm vững lại khớp bằng vít cho thấy khớp vững trở
lại và bệnh nhân đi lại được không đau sau 3 tháng kiểm tra sau mổ.
Kết
luận: Việc xạ hình xương không những phát hiện sớm các LKHNTCXM mà còn biết
chính xác lỏng ở phần nào của khớp và đặc biệt có thể loại bỏ những tổn thương
khác gây đau do không phải LKHNTCXM. Cố định xương –ximăng ốc có thể kéo dài
tuổi thọ của khớp nhân tạo một khi nó có biểu hiện lỏng.
>> Xem chi tiết ...